Trâu bò chiếm một vị thế đặc biệt trong thơ Huy Cận

Huy Cận suốt đời làm quan với một tâm hồn nông dân. Trong Hồi Ký Song Đôi, anh có lần tình tự : « chúng tôi là dòng dõi con nhà cày, chúng tôi mọc ở đất lên, quen ngửi mùi đất, nhịp nhàng với thời tiết quê nhà » (1) , chân thành, tự tôn, từ tốn.

Hồn thơ mọc lên từ những luống cày, khi nhìn lên một áng mây bay, chợt nhớ đến đàn trâu :

Trời nóng đêm qua mây dậy ran,

Ngỡ đàn trâu bạc phá tung ràn,

Giữa ngày ruộng vỡ mênh mông gió

Những luống cày xô nắng chói chang

(Mây Trắng, 1961)

(Ràn : chuồng)

Trong dòng thơ mộc mạc, tình nghĩa ấy, hình ảnh con trâu gắn bó với kiếp người, và cảnh vật nông thôn :

Tiếng gà gáy ơi ! gà gáy ơi !

Nghe sao ấm áp tựa nghe đời

Tuổi thơ gà gáy ran đầu bếp

Trâu dậy trong ràn, em cựa nôi.

 

Cha dậy đi cày trau kịp vụ

Hút vang điếu thuốc khói mù bay.

Nhút cà, cơm ủ trong bồ trấu

Chút cá kho tương mẹ vội bày.

(Sớm mai gà gáy, 1962)

(cày trau : cày ải, cày lật đất cho khô)

Buổi sáng trong gia đình nông thôn Việt Nam ít khi có một cảnh linh hoạt và chính xác như vậy. Đặc sắc trong tranh là : ngọai cảnh khách quan, hiện thực mà tâm cảnh rộn rực, thiết tha ; âm thanh tinh tế, tiếng trâu dậy trong ràn không át được tiếng em cựa nôi trong cảm xúc.

Thi ca, từ ngôn ngữ đến nội dung, là một quy ước của thời đại. Không cần lần lên đến thơ Đường thơ Tống, cứ lấy Huy Cận làm ví dụ. Trong Lửa Thiêng, 1940 có nhiều súc vật : voi, ngựa, hùm trong rạp xiếc, nai cao gót lẫn trong mù, gà gáy ven đê… nhưng không có trâu bò. Huy Cận đi dạo giữa đường thơm… lòng giắt sẵn ít hương hoa tưởng tượng… Thơ anh sau này, không những có trâu bò – đôi khi khuôn sáo : trâu sừng cong lại, như hai vành trăng (1963) – mà còn có mùi phân :

Chuồng bò bốc ấm mùi phân ủ

Mùi cỏ còn hăng xen cọng rơm

(…)

Mùi đất mùi phân nhuyễn với nhau

Mùi bùn vừa nạo dưới ao sâu

Chua chua ráp ráp mùi ngâm mạ

Nghe nứt mầm xanh mỗi tế bào

(Hương Đất, 1972)

Mùi của nông thôn, không còn dìu dịu phất phơ… mùi rơm hoa dại.  Nhưng bài thơ vẫn hay, hiện thực, hăng nồng sự sống… Cái hay ẩm đục, thô tháp hiếm thấy.

Hình ảnh nông thôn êm ả, sau một ngày lao động dài, người và bò gắn bó, ung dung.

Cày xong, sương đọng mặt đêm nhòa

Sao dậy, trời như cải nở hoa

Người với bò đi, đôi bóng đậm

Khoan thai chân bước trở về nhà.

(Xong buổi cày, 1962)

 

Huy Cận có bài thơ tả nghé độc đáo

 

Một con nghé ra đời

(…)

Lông nó đen, đen nháy

Mẹ nó liếm càng đen

Mặt trời làm bàn chải

Từng tia sáng vuốt thêm

(Thơ Nghé, 1962)

Trâu bò chiếm một vị thế đặc biệt trong thơ Huy Cận, khác với thi phẩm người khác. Nói chung là do quan hệ tình cảm giữa Huy Cận và nông thôn, tuy rằng anh gần như suốt đời sống ở thành phố, trừ những năm kháng chiến chống Pháp; trong quan hệ đó, sâu lắng là tình cảm giữa anh và trâu bò, ở tuổi ấu thơ mà anh kể lại :

“Trên cánh đồng chân núi ấy, lúc tuổi bốn, năm tôi đã theo cha mẹ, o tôi, chú tôi đi bừa, đi nhặt cỏ, đi gieo hạt. Thú nhất là đứng trên cái bừa đạp cho bò kéo đi như là đứng trên một chiếc xe, nghe từng cục đất vỡ tơi dưới chân bừa, xông lên mùi cỏ úa, có khi còn lấy roi quất cho bò chạy nhanh, chiếc bừa xốc lên như một cỗ xe thắng trận. (…) Tôi lại cưỡi trâu, trời cuối năm se lạnh, ngồi trên lưng trâu ấm lắm. Cắm dây thừng (ở Hà Tĩnh gọi là chạc mũi) tôi điều khiển trâu như cầm cương ngựa, và lấy hai chân thúc vào hông trâu cho trâu chạy thật nhanh như ngựa phi” (2)

Tham khảo thuyết minh về con trâu trên OnlineNews: http://onlinenews.vn/chi-tiet/91-15000-thuyet-minh-ve-con-trau-bai-van-tuyen-chon.html

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s